Trong qúi I/2007 mặc dù đã có rất nhiều
biện pháp đề ra nhưng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần
Thép Việt – Ý đã không đạt chỉ tiêu so với kế hoạch đã đề ra và so với cùng kỳ
năm trước. Kết quả tổng hợp được như sau:
STT | Chỉ tiêu | ĐVT | Kế hoạch năm 2007 | Thực hiện |
Quí 1/2007 | Quí 1/2006 |
1 | Doanh thu thuần | 106 đ | 1.579.400 | 243.876 | 356.797 |
2 | Lợi nhuận sau thuế | 106 đ | 17.724 | 2.057 | 10.155 |
3 | Sản lượng sản xuất | Tấn | 180.000 | 25.472 | 45.922 |
4 | Sản lượng tiêu thụ | Tấn | 180.000 | 28.670 | 34.097 |
Doanh thu thuần : 243.876 triệu đồng
đạt 15% so với kế hoạch năm, đạt 68% so với quí I/2006.
Lợi nhuận sau thuế: 2.057 triệu đồng
đạt 11% so với kế hoạch năm, đạt 20% so với quí I/2006.
Sản lượng sản xuất: 25.472 tấn thép đạt
14% so với kế hoạch năm, đạt 55% so với quí I/2006.
Sản lượng tiêu thụ: 28.670 tấn thép đạt
16% so với kế hoạch năm, đạt 84% so với quí I/2006.
Các chỉ tiêu tài chính so với Quí
I/2006 đều giảm, do ảnh hưởng của một số nguyên nhân chính sau:
Do thị trường thép trên thế giới
liên tục biến động từ năm 2006 đến nay, mà nguyên vật liệu đầu vào của Công ty
(chủ yếu là phôi thép) phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường phôi thép thế giới,
mỗi sự biến động dù lớn hay nhỏ đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Tháng 2/2006 công ty mua 10.000 tấn
phôi của Công ty Kunming Railway giá 327.5 USD/tấn (giá DAF).
Tháng 3/2006 công ty mua 10.000 tấn
phôi của Công ty Kunming Railway giá 353 USD/tấn (giá DAF).
Với hai hợp đồng này khi phôi về đến
Nhà máy, sản xuất ra thép và tiêu thụ với giá là 7,65 triệu đồng/tấn thép, Công
ty đã thu lợi nhuận khoảng gần 10 tỷ đồng.
Với tình hình thực tế của năm 2006 giá
phôi liên tục tăng nên cứ mua được lô phôi nào là sẽ thu được lợi nhuận từ lô
phôi đó. Từ cuối năm 2006 sang các tháng đầu năm 2007 giá phôi thép thế giới
tăng một cách chóng mặt so với giá phôi thép trong nước, Công ty không ký được
hợp đồng nhập khẩu phôi nào, Công ty phải mua phôi sản xuất trong nước với giá
cao (7,92 triệu đồng/tấn phôi, giá phôi về đến nhà máy), số lượng hạn chế, dẫn
đến không đủ phôi cho sản xuất, nhà máy phải hoạt động cầm chừng, đầu thu không
đủ bù đắp các chi phí cố định dẫn đến giá thành sản phẩm thép cao, lợi nhuận
giảm.
Vì nguồn cung ứng phôi thép có hạn Công
ty đã tận dụng chính sách hoàn thuế (8% thép xuất khẩu) của chính phủ Trung
quốc. Tháng 1/2007 Công ty đã tiến hành ký hợp đồng đặt hàng sản xuất tại Công
ty có uy tín tại Trung quốc 10.000 tấn thép mác cao với giá 425 USD/tấn (giá
FOB), dự kiến sẽ nhập hàng vào cuối tháng 3/2007 với khoản lợi nhuận thu được
là 5 tỷ đồng. Lô hàng này đã nhập vào Việt nam vào đầu tháng 4/2007. Khoản lợi
nhuận này sẽ được phản ánh vào kết quả hoạt động của Công ty trong Quí II/2007.
HoSE